VIIPIP uses cookies and browser storage for sessions, saved shortlists and map preferences. Dismissing this notice does not consent to optional tracking. Cookie Policy.
Điều kiện xã hội
Hà Nội là thủ đô đồng thời cũng là thành phố lớn thứ hai Việt Nam về dân số với 6,233 triệu (2008). Với diện tích 927,99 km2, thành phố trải dài trên 50 km chiều dài và 30 km chiều rộng
- Mật độ dân số:
Dân cư Hà Nội phân bố không đều giữa các lãnh thổ hành chính và giữa các vùng sinh thái. Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 2.881 người/km2 (mật độ trung bình ở nội thành 19.163 người/km2, riêng quận Hoàn Kiếm là 37.265 người/km2, ở ngoại thành 1.721 người/km2). Mật độ này cao gấp gần 12 lần so với mức trung bình của cả nước, gần gấp đôi mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng và là thành phố có mật độ cao nhất cả nước.
Là một thành phố lớn của cả nước, mật độ dân số ở Hà Nội khá cao và tăng nhanh cùng với quá trình đô thị hoá, có sự chênh lệch rất lớn giữa hai khu vực nội thành và ngoại thành. Quận Hoàn Kiếm có mật độ dân số cao nhất (tới 37.258 người/km2), gấp 48 lần so với nơi có mật độ dân số thấp nhất của thành phố là huyện Sóc Sơn (772 người/km2).
-Lực lượng lao động:
Hà Nội có 3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động. Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao. Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế. Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác. Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trường đầu tư của thành phố còn thấp. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn. Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư.